[1] 1. Mai Quyên, Vũ Thị Minh Ngọc (2018), “Phân tích kết quả thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2016”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp, số 3.
[2] 2. Nguyễn Thanh Huyền, Vũ Quang (2019), “Một số vấn đề pháp lí về chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 05.
[3] 3. Phạm Hồng Lượng, Trần Quang Bảo, Đoàn Hoài Nam, Bùi Thị Minh Nguyệt (2023), “Cơ chế tài chính bền vững cho phát triển hệ thống rừng đặc dụng ởViệt Nam”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp, tập 12, số 4.
[4] 4. Phạm Ngọc Bảy (2016), Tính toán carbon xây dựng bản đồ carbon rừng ở Việt Nam, http://frec.com.vn/tinh-toan-cac-bon-xay-dung-ban-do-cac-bon-rung-o-viet...
[5] 5. Phạm Thu Thủy và các tác giả (2021), Kinh nghiệm của 87 quốc gia trong việc xác định và chuyển nhượng quyền carbon, Báo cáo chuyên đề 218, https://www.cifor. org/publications/pdf_files/OccPapers/OP-218.pdf
[6] 6. Trung tâm Con người và Thiên nhiên (2015), Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và tác động đến hệ thống quản trị lâm nghiệp địa phương, https://nature.org. vn/vn/wp-content/uploads/2016/01/051216 _ PFES_Policy-web.pdf
[7]
VŨ THỊ DUYÊN THỦY * PHẠM THỊ MAI TRANG ** Tóm tắt: Chi trả dịch vụ môi trường rừng là hình thức chi trả dịch vụ môi trường được áp dụng nhiều năm tại Việt Nam và đã thu được những thành tựu đáng ghi nhận trong công cuộc bảo vệ rừng. Với vai trò đó, hệ thống pháp luật chi trả dịch vụ môi trường rừng luôn được quan tâm sửa đổi nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thực tiễn. Tuy nhiên, các quy phạm pháp luật hiện hành trong lĩnh vực này vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định, làm giảm hiệu quả điều chỉnh của pháp luật trên thực tế. Bài viết phân tích những bất cập của pháp luật hiện hành về chi trả dịch vụ môi trường rừng và đề xuất một số giải pháp khắc phục như: quy định rõ nguyên tắc xác định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng; quy định cụ thể cơ chế chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, quyền các bon rừng; sửa đổi quy định về mức chi trả dịch vụ môi trường rừng… qua đó góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng, đáp ứng đòi hỏi cấp bách của thực tiễn ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam trong thời gian tới. Từ khoá: Chi trả dịch vụ môi trường; dịch vụ môi trường rừng; lâm nghiệp; môi trường rừng Nhận bài: 03/9/2024 Hoàn thành biên tập: / /2024 Duyệt đăng: / /2024 THE LAW ON PAYMENT FOR FOREST ENVIRONMENTAL SERVICES IN VIETNAM: INADEQUACIES AND SOLUTIONS FOR IMPROVEMENT Abstract: Payment for forest environmental services is a form of payment for environmental services that has been exercised for many years in Vietnam and has significant achievements in forest protection. With that role, the legal system for payment for forest environmental services is always being revised to better meet the actual needs. However, the current legal provisions in this field still have certain limitations, which reduce their effectiveness in practice. This article analyses the shortcomings of current laws on payment for forest environmental services and proposes some solutions to overcome them, such as more concrete provisions on the mechanism for payment for forest’s carbon absorption and storage, right to forest’s carbon, amending the provision on payment limit for forest environmental services; thereby contributing to improving the effectiveness of forest protection and development and meeting the urgent requirements of coping with climate change in Vietnam in the near future. Keywords: Payments for environmental services; forest environmental services; forestry; forest environment Received: 3 September 2024; Editing completed: … October 2024; Accepted for publication: … October 2024 1. Khái quát về chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam Chi trả dịch vụ môi trường là một công cụ kinh tế nhằm thiết lập cơ chế chi trả giữa người được thụ hưởng các dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên và người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó. Điều này xuất phát từ yêu cầu về bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên nói riêng một cách bền vững, bảo đảm việc công nhận và sử dụng một cách hợp lí, thích đáng các giá trị của hệ sinh thái tự nhiên kết hợp với các yêu cầu về phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Trong số các loại hình dịch vụ môi trường được chi trả, dịch vụ môi trường rừng là loại hình dịch vụ đã sớm được thừa nhận và quy định trong hệ thống pháp luật môi trường nói chung, pháp luật về lâm nghiệp nói riêng. Chi trả dịch vụ môi trường rừng là cơ chế dịch vụ chi trả giữa những người sử dụng dịch vụ môi trường rừng và những người cung ứng dịch vụ môi trường rừng, nhằm xã hội hoá công tác bảo vệ rừng và phát huy các giá trị kinh tế của môi trường rừng trong hoàn cảnh nguồn tài nguyên gỗ rừng tự nhiên đã cạn kiệt và vốn ngân sách của nhà nước đầu tư cho bảo vệ rừng còn hạn hẹp . Trong cơ chế này, chủ thể cung ứng dịch vụ là người sẵn lòng (hoặc bị bắt buộc) tạo ra các hàng hoá, dịch vụ môi trường rừng thông qua hoạt động quản lí môi trường rừng; người sử dụng dịch vụ là người sẵn lòng (hoặc bị bắt buộc) phải trả tiền cho các lợi ích từ việc nhận được hàng hoá là các dịch vụ môi trường rừng. Dưới góc độ pháp lí, nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của công tác bảo vệ, phát triển rừng nói chung và chi trả dịch vụ môi trường rừng nói riêng, Việt Nam hiện đã có một số văn bản pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực này, điển hình như: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luật Lâm nghiệp năm 2017, Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp (sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 83/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ; Nghị định số 27/2024/NĐ-CP ngày 06/3/2024 của Chính phủ; Nghị định số 91/2024/NĐ-CP ngày 18/7/2024 của Chính phủ)… Các nội dung cơ bản về chi trả dịch vụ môi trường rừng được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật nêu trên bao gồm: Các nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng; đối tượng được chi trả dịch vụ môi trường rừng; đối tượng phải chi trả dịch vụ môi trường rừng; hình thức chi trả dịch vụ môi trường rừng… Thực thi các quy định pháp luật nêu trên, hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được triển khai trên phạm vi cả nước. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kế hoạch thu tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2023 là 3.200 tỉ đồng. Trong khi đó năm 2022, tổng số thu tiền dịch vụ môi trường rừng cả nước đạt trên 3.700 tỉ đồng, vượt 23% so với kế hoạch và tăng 17% so với năm 2021. Đến nay, cả nước có 718 chủ rừng đang quản lí 7,65 triệu ha rừng và đất lâm nghiệp; có 417 phương án quản lí rừng bền vững được phê duyệt, đạt 58% tổng số phương án cần phê duyệt; có 445.500 ha được cấp chứng chỉ rừng (rừng phòng hộ 38.565 ha, rừng trồng sản xuất 407.000 ha) . Theo Báo cáo của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (VNFF), tính đến tháng 07/2024, tổng thu tiền dịch vụ môi trường rừng cả nước đạt hơn 4.156 tỉ đồng. Việc giải ngân nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng cho người dân đã cơ bản hoàn thành, hỗ trợ quản lí, bảo vệ cho gần 7,3 triệu ha rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng, chiếm 49,24% tổng diện tích rừng toàn quốc . Như vậy, có thể thấy, các quy định pháp luật hiện hành đã tạo cơ sở pháp lí quan trọng cho việc thực hiện thống nhất chi trả dịch vụ môi trường rừng, góp phần bảo đảm hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng, tiến tới xã hội hoá vấn đề bảo vệ tài nguyên rừng, đảm bảo phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, các quy định pháp luật trong lĩnh vực này cũng đã bộc lộ một số hạn chế, đòi hỏi sớm được khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật chi trả dịch vụ môi trường rừng, đáp ứng các yêu cầu cấp bách trong bảo vệ và phát triển rừng cũng như thực hiện mục tiêu quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu. 2. Một số hạn chế của pháp luật Việt Nam về chi trả dịch vụ môi trường rừng 2.1. Hạn chế trong các quy định về chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng Theo quy định tại khoản 3 Điều 61 Luật Lâm nghiệp năm 2017, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lí rừng bền vững, tăng trưởng xanh là một loại hình dịch vụ môi trường rừng được chi trả tiền dịch vụ. Trên cơ sở đó, điểm đ khoản 2 Điều 63 Luật Lâm nghiệp năm 2017 xác định rõ, tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn phải chi trả tiền dịch vụ về hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng. Tiếp đó, khoản 5 Điều 63 Luật này đã trao trách nhiệm quy định chi tiết đối tượng, hình thức chi trả, mức chi trả dịch vụ môi trường rừng và điều chỉnh, miễn, giảm mức chi trả dịch vụ môi trường rừng; quản lí sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng cho Chính phủ. Thực hiện yêu cầu đó, Chính phủ đã có quy định chi tiết về lộ trình, cách thức chi trả đối với các loại hình dịch vụ môi trường khác nhưng lại chưa có hướng dẫn cụ thể về cách thức chi trả, đối tượng chi trả, mức chi trả, vấn đề quản lí và sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng đối với dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng. Cụ thể là, khoản 5 Điều 57 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp có quy định: Đối với tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thí điểm đến hết năm 2020, tổng kết, trình Chính phủ quy định chi tiết đối tượng, hình thức chi trả, mức chi trả, quản lí, sử dụng tiền chi trả dịch vụ về hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề nghị và được Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương thí điểm chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng tại 4 tỉnh: Quảng Ninh, Thanh Hoá, Quảng Nam và Thừa Thiên Huế tại Văn bản số 1586/VPCP-NN ngày 26/02/2019 của Văn phòng Chính phủ. Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã trình hồ sơ dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng với các đơn vị được chọn làm thí điểm là cơ sở sản xuất nhiệt điện than và cơ sở sản xuất xi măng ở 4 tỉnh nói trên tại Tờ trình số 7312/TTr-BNNTCLN ngày 02/10/2019. Thêm vào đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã trình hồ sơ dự thảo Nghị định về thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và quản lí tài chính Thoả thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (Thoả thuận chuyển nhượng kết quả giảm phát thải đã kí giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ngân hàng thế giới - Cơ quan nhận ủy thác của Quỹ các bon trong lâm nghiệp) tại Tờ trình số 5577/TTr-BNN-TCLN ngày 01/9/2021. Tuy nhiên, mỗi tổ chức, cá nhân mua kết quả giảm phát thải/tín chỉ các-bon lại đưa ra các điều kiện, yêu cầu khác nhau. Trên thực tế, một số tỉnh đã có các tổ chức, nhà đầu tư đề nghị được mua kết quả giảm phát thải nhưng do chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng nên không triển khai được. Điều chỉnh chung về bảo vệ môi trường, Điều 138 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có quy định về dịch vụ môi trường rừng. Theo quy định này, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng là một trong 5 loại hình của hệ sinh thái tự nhiên được chi trả dịch vụ. Điều 139 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có quy định về tổ chức và phát triển thị trường các-bon nhưng cũng không có quy định cụ thể về tổ chức và phát triển thị trường các-bon rừng. Cụ thể hoá quy định của Luật Bảo vệ môi trường, Điều 8 Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn quy định các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng; giao đất, cho thuê đất để trồng rừng; tự phục hồi, phát triển rừng được tham gia các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước, quốc tế. Tuy nhiên, quy định này cũng chỉ dừng lại ở những quy định chung, mang tính nguyên tắc nên rất khó triển khai cụ thể và thống nhất trên phạm vi cả nước. 2.2. Hạn chế trong các quy định về mức chi trả dịch vụ môi trường rừng Mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là số tiền mà người sử dụng các dịch vụ môi trường rừng phải trả cho người cung ứng dịch vụ tính trên một đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng hoặc trên một đơn vị sản phẩm tương ứng theo quy định của nhà nước hoặc theo thoả thuận của hai bên. Theo đó, dựa vào tình hình thực tế trong từng thời kì, đối với mỗi loại dịch vụ môi trường rừng khác nhau, pháp luật quy định mức chi trả cụ thể hoặc theo hướng do các bên thoả thuận nhằm mục đích đảm bảo thu nhập và tạo động lực khuyến khích các bên tham gia hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng nói riêng, bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng nói chung. Tuy nhiên, các quy định hiện hành về vấn đề này còn một số hạn chế sau: Thứ nhất, quy định về cách thức xác định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng chưa phù hợp Điều 59 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP đã có quy định cụ thể về mức chi trả và xác định số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Theo đó, mức chi trả dịch vụ môi trường rừng được xác định dựa trên diện tích rừng mà chưa tính toán cụ thể tới tình trạng chất lượng cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Nói cách khác, quy định pháp luật hiện nay mới chỉ quan tâm tới số lượng thể hiện qua diện tích rừng được chi trả mà chưa cân nhắc tới chất lượng dịch vụ môi trường rừng cung ứng. Mặt khác, cần nhận thức được rằng, kể cả khi hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng sẽ làm tăng diện tích rừng được bảo vệ thì không có nghĩa phần diện tích rừng được bổ sung sẽ làm tăng dịch vụ môi trường rừng nếu không đáp ứng được các yêu cầu để cung ứng dịch vụ. Dựa vào phương pháp tính toán này, khu vực có diện tích rừng nhỏ nhưng độ che phủ rừng lớn hơn, giá trị môi trường được cung ứng nhiều hơn có thể sẽ nhận được mức chi trả thấp hơn và ngược lại khu vực có độ che phủ rừng thấp nhưng có diện tích rừng lớn hơn lại có thể nhận được mức chi trả dịch vụ môi trường rừng cao hơn. Đối với các chủ rừng, việc mới chỉ dừng lại ở cách tính toán coi trọng về “lượng”, chưa chú trọng về “chất” của môi trường rừng tất yếu sẽ dẫn tới mức chi trả dịch vụ môi trường rừng có sự chênh lệch mang tính “không công bằng” giữa các khu vực trong cùng địa phương hoặc giữa các địa phương với nhau. Vấn đề này sẽ dẫn tới tình trạng nếu như mức chi trả cao sẽ tạo động lực đáng kể để bảo vệ rừng ở các khu vực ít rừng, trong khi mức chi trả thấp sẽ dẫn đến nguy cơ chuyển đổi rừng ở các khu vực có nhiều rừng hơn. Lí do của tình trạng này là các chủ rừng không thấy được chi trả thoả đáng với tiền dịch vụ môi trường rừng nên sẽ chuyển sang khai thác rừng vì mục đích kinh tế với lợi nhuận lớn hơn, nhanh hơn do chưa được đáp ứng nguồn sinh kế ổn định và bền vững. Điều này hoàn toàn đi ngược lại với bản chất của cơ chế dịch vụ nói chung và dịch vụ môi trường rừng nói riêng khi mức chi trả hiện nay mới chỉ tập trung vào cơ chế “hỗ trợ một phần” chi phí chăm sóc, cải tạo, phát triển giá trị môi trường rừng cho chủ rừng mà chưa phải là quan hệ “mua-bán” công bằng và hợp lí theo nguyên tắc thị trường. Đối với chủ thể sử dụng dịch vụ môi trường rừng, nếu theo cách tính mức chi trả dịch vụ môi trường rừng như hiện nay, người sử dụng dịch vụ môi trường sẽ nhận được rất ít lợi ích mà lẽ ra họ được hưởng bởi lẽ họ phải trả mức phí dịch vụ trên cơ sở diện tích rừng sử dụng, bất kể tình trạng, chất lượng của khu vực rừng đó như thế nào. Nói cách khác, người sử dụng dịch vụ môi trường rừng có thể sẽ không được thụ hưởng dịch vụ môi trường rừng tương xứng với mức phí họ đã chi trả. Điều này không những đi ngược lại bản chất của quan hệ mua bán, cung ứng dịch vụ trên thị trường, mà còn không tạo được động lực thúc đẩy các nhà đầu tư tham gia đầu tư và phát triển dịch vụ môi trường rừng. Thứ hai, quy định về mức chi trả dịch vụ môi trường rừng chưa hợp lí, cụ thể: - Theo quy định tại Điều 59 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 27 Điều 1 Nghị định số 91/2024/NĐ-CP), mức chi trả dịch vụ môi trường rừng hiện nay áp dụng với cơ sở sản xuất thủy điện là 36 đồng/kwh điện thương phẩm. Mức chi trả này được tính toán tỉ lệ thuận với công suất phát điện của nhà máy thủy điện. Do đó, nhà máy thủy điện có công suất sản xuất điện năng càng lớn thì đơn giá chi trả dịch vụ môi trường rừng càng cao. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật kinh tế thị trường nhưng cũng sẽ tạo ra sự chênh lệch lớn về mức chi trả dịch vụ môi trường rừng giữa các khu vực rừng tại các lưu vực; gây tâm lí so sánh, không khuyến khích được hoạt động bảo vệ và phát triển rừng của các chủ rừng tại các lưu vực có nhà máy thủy điện công suất hoạt động thấp hơn. - Theo quy định tại khoản 4 Điều 62 Luật Lâm nghiệp năm 2017 thì tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng là một yếu tố trong giá thành sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng. Điều đó có nghĩa, chủ thể sử dụng dịch vụ môi trường rừng được hạch toán tiền dịch vụ môi trường rừng vào giá thành sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ và người tiêu dùng các hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ đó mới là chủ thể trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho chủ thể cung ứng dịch vụ. Chẳng hạn với mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng áp dụng đối với cơ sở sản xuất thủy điện là 36 đồng/kwh điện thương phẩm (Điều 59 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP) thì mức chi trả cho các chủ thể cung ứng dịch vụ môi trường rừng là chưa đủ để đáp ứng nhu cầu cơ bản và nâng cao chất lượng cuộc sống. Do đó, trong bối cảnh giá điện đang ngày càng có xu hướng tăng như hiện nay, việc duy trì mức giá dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở sản xuất thủy điện theo quy định pháp luật hiện hành là chưa phù hợp, chưa bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng cho chủ thể cung ứng dịch vụ môi trường rừng khi “đầu vào” của quá trình sản xuất điện năng (dịch vụ môi trường rừng cung ứng) được ấn định mức giá cố định còn thấp trong khi sản phẩm được tạo ra từ dịch vụ (điện thành phẩm) lại được điều tiết giá cả theo xu hướng ngày càng tăng. - Theo quy định tại khoản 3 Điều 63 Luật Lâm nghiệp năm 2017, Điều 58 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP, chi trả dịch vụ môi trường rừng có thể được thực hiện thông qua hình thức chi trả trực tiếp hoặc chi trả gián tiếp. Đối với hình thức chi trả trực tiếp, bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng trên cơ sở hợp đồng thoả thuận tự nguyện. Trong trường hợp bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng không thoả thuận được hợp đồng chi trả dịch vụ môi trường rừng theo hình thức chi trả trực tiếp về các nội dung của hợp đồng hoặc vì lí do nào đó mà chủ thể không muốn/không thể tự mình chi trả, bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng thực hiện chi trả gián tiếp tiền dịch vụ môi trường rừng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Tuy nhiên, dù áp dụng hình thức chi trả trực tiếp hay chi trả gián tiếp, Nhà nước cũng đều có sự can thiệp thông qua quy định cụ thể về đơn giá và mức chi trả dịch vụ môi trường rừng (Theo quy định tại Điều 59 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP và được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 27 Điều 1 Nghị định 91/2024/NĐ-CP) theo hai cách thức: 1) quy định cụ thể mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (đối với cơ sở sản xuất thủy điện, cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch, cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước từ nguồn nước); 2) quy định mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng tối thiểu (đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản hoặc doanh nghiệp liên kết với các hộ gia đình, cá nhân nuôi trồng thủy sản). Cần nhận thức được rằng, sự can thiệp của Nhà nước trong việc ấn định mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng tối thiểu đối với một số trường hợp là cần thiết. Điều này xuất phát từ bản chất của quan hệ chi trả dịch vụ môi trường rừng vốn được thiết lập dựa trên cơ chế cung – cầu của thị trường. Nhà nước tham gia vào thị trường không với mục đích chi phối và can thiệp sâu rộng vào các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể mà hướng tới điều tiết thị trường phát triển phù hợp với định hướng xây dựng và phát triển đất nước trên cơ sở bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh. Bên cạnh đó, Nhà nước còn trực tiếp tham gia vào các hoạt động của đời sống kinh tế với tư cách là một chủ thể thông qua việc thành lập các cơ quan, tổ chức thực hiện vai trò tương tự như các thiết chế của thị trường như các công ti, tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp… Đồng thời, xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô thông qua các công cụ kinh tế như thuế, phí, các chính sách ưu đãi, hỗ trợ… để điều tiết nền kinh tế. Do đó, sự can thiệp của Nhà nước trong việc quy định mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng tối thiểu trong một số trường hợp là cần thiết nhằm định hướng nền kinh tế, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các chủ thể, tránh lãng phí nguồn lực cho sự phát triển. Như vậy, có thể thấy, việc quy định cụ thể mức chi trả tiền dịch vụ môi trường theo cách thức chi trả thứ nhất là chưa phù hợp. Điều này có thể được lí giải bởi mục đích của chi trả dịch vụ môi trường rừng là nhằm thúc đẩy lâm nghiệp truyền thống có tính bao cấp hoà nhập vào nền sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường trong bối cảnh các chức năng cơ bản của hệ sinh thái rừng được định nghĩa lại dưới dạng các loại hàng hoá, dịch vụ được cung ứng để đáp ứng nhu cầu xã hội. Do đó, việc quy định mức giá cố định đối với một số loại dịch vụ môi trường rừng sẽ làm ảnh hưởng đến quyền tự do thoả thuận giữa bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng, “hành chính hoá” mối quan hệ cung ứng dịch vụ, đi ngược lại với quy luật của thị trường, từ đó làm giảm tính khả thi và hiệu quả thực hiện pháp luật trên thực tế. Cần lưu ý rằng, điều này khác với sự can thiệp cần thiết của Nhà nước trong việc ấn định mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng tối thiểu trong một số trường hợp đã phân tích ở trên bởi lẽ: Việc quy định mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng tối thiểu sẽ góp phần hình thành mức giá “sàn” mà tại đó quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể (đặc biệt là chủ thể cung ứng dịch vụ môi trường rừng) sẽ được bảo đảm. Mức giá này có thể thay đổi tùy theo quy luật cung – cầu của thị trường và chất lượng dịch vụ môi trường rừng được cung ứng nhưng phải bảo đảm mức giá tối thiểu cần thiết để bảo đảm các quyền và lợi ích cơ bản của các chủ thể. Mặt khác, mức giá “sàn” sẽ khắc phục được phần nào hạn chế mới chỉ chú trọng về “lượng”, chưa chú trọng về “chất” khi quy định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng hiện nay. Ngược lại, việc ấn định mức giá cố định đối với một số loại hình dịch vụ môi trường rừng (đối với cơ sở sản xuất thủy điện, cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch, cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước từ nguồn nước) sẽ phần nào hạn chế tính linh hoạt của thị trường, chưa phản ánh đúng bản chất quy luật cung – cầu, qua đó ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế của chủ thể. Có thể thấy, các loại dịch vụ môi trường rừng có quy định cụ thể mức chi trả thường là những loại dịch vụ môi trường rừng mang tính thiết yếu, có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước cũng như đời sống của người dân . Xuất phát từ lẽ đó, Nhà nước thực hiện chính sách độc quyền và ấn định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng cụ thể đối với một số loại hàng hóa, dịch vụ do môi trường rừng cung ứng. Tuy nhiên, trong thời gian tới, vấn đề tư nhân hóa ngành điện, phát triển năng lượng điện tái tạo cần được xem xét cụ thể, kĩ càng nhằm tiến tới huy động sâu rộng các thành phần kinh tế tham gia trong lĩnh vực này, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của chủ thể kinh doanh, cải thiện đời sống của người dân, bảo đảm ngày càng tốt hơn chất lượng của dịch vụ môi trường rừng. Thứ ba, quy định về mức chi trả dịch vụ môi trường rừng chưa đầy đủ Theo quy định tại khoản 3 Điều 59 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP, mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đối với cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước từ nguồn nước là 50 đồng/m3. Tuy nhiên, đối với các trường hợp cơ sở vừa sản xuất công nghiệp, vừa sản xuất nông nghiệp hoặc các cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành nghề khác... pháp luật hiện hành lại chưa có quy định cụ thể về xác định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với các hoạt động này, gây khó khăn cho việc xác định và thu tiền dịch vụ môi trường rừng của các đối tượng trên. 2.3. Hạn chế trong các quy định về quản lí quỹ bảo vệ và phát triển rừng Đối với chi trả dịch vụ môi trường rừng nói riêng, bảo vệ rừng nói chung, quỹ bảo vệ và phát triển rừng giữ vai trò quan trọng. Tuy nhiên, một số hạn chế trong các quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này đã làm giảm phần nào vai trò đó, cụ thể như sau: Thứ nhất, quy định về trích kinh phí quản lí của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng từ tổng số tiền dịch vụ môi trường rừng thực thu trong năm chưa phù hợp. Theo quy định tại Điều 70 Nghị định số 156/2018/NĐ-CP (sửa đổi bởi điểm a khoản 30 Điều 1 Nghị định số 91/2024/NĐ-CP), đối với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, kinh phí quản lí được trích tối đa 0,5% tổng số tiền dịch vụ môi trường rừng thực thu trong năm để chi cho các hoạt động của Quỹ. Mức trích cụ thể trong kế hoạch thu, chi hằng năm của Quỹ, trình Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định. Đối với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh, kinh phí quản lí được trích tối đa 10% tổng số tiền dịch vụ môi trường rừng thực thu trong năm để chi cho các hoạt động của Quỹ. Mức trích cụ thể trong kế hoạch thu, chi hằng năm của Quỹ, trình ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Việc quy định số kinh phí tối đa được phép trích lại trong tổng số tiền dịch vụ môi trường rừng dẫn tới vấn đề: dù các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng không trích lại kinh phí quản lí đến mức tối đa nhưng số tiền thực tế được trích lại vẫn rất lớn do số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng đang có xu hướng ngày càng tăng. Hệ quả tất yếu là thặng dư trong các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng ngày càng lớn trong khi các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền trao quyền chủ động trong chi thường xuyên và chi không thường xuyên theo chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Trong trường hợp, đơn vị chi tiền lương chưa đáp ứng yêu cầu theo Nghị quyết số số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp thì các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng được tự quyết định mức trích Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng bổ sung thu nhập để cải cách tiền lương mà không khống chế mức trích. Điều này dẫn đến nguồn chi thu nhập tăng thêm từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng bổ sung thu nhập trong một số trường hợp lớn gấp nhiều lần tiền lương ngạch bậc được chi trả là chưa hợp lí. Điều này tất yếu dẫn đến việc lập dự toán kinh phí quản lí của bộ máy quản lí không phù hợp với thực tế chất lượng công việc hoặc làm xuất hiện cơ chế “xin – cho” khi cấp có thẩm quyền quyết định tỉ lệ (%) trích kinh phí quản lí cao, không phù hợp nhằm thu lợi bất chính từ số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Thứ hai, quy định về quản lí nguồn thu của quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh chưa thống nhất. Theo quy định tại Điều 19 Luật Lâm nghiệp năm 2017 (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4 Điều 248 Luật Đất đai năm 2024), điều kiện chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác là phải có phương án trồng rừng thay thế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc sau khi hoàn thành trách nhiệm nộp tiền trồng rừng thay thế. Theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Thông tư số 25/2022/TT-BNNPTNT ngày 30/12/2022 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Thông tư số 22/2023/TT-BNNPTNT ngày 15/12/2023 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư trong lĩnh vực lâm nghiệp): Trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện dự án có chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác thì thực hiện nộp tiền về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh hoặc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với địa phương chưa thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh là Quỹ Tài chính nhà nước ngoài ngân sách. Trong khi đó, tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất, các chủ thể sẽ phải nộp vào ngân sách nhà nước và được quản lí, sử dụng, phân bổ theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Có thể thấy, việc thực hiện trồng rừng thay thế hoặc nộp tiền trồng rừng thay thế là nội dung phát sinh từ việc chuyển đổi mục đích đất rừng là tài sản công nhưng hiện nay lại đang được quản lí và sử dụng tại Quỹ Tài chính nhà nước ngoài ngân sách; tiếp đó lại được đầu tư để thực hiện dự án trồng rừng mà không được quản lí, sử dụng theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Cách quản lí nguồn thu của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh theo quy định hiện nay dẫn tới tình trạng thiếu thống nhất trong quản lí nguồn thu từ tài sản công là tài nguyên đất đai, làm giảm hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn. 3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam 3.1. Ban hành các quy định về chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng Như đã phân tích, dưới góc độ pháp lí, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng là một loại hình dịch vụ môi trường rừng được chi trả tiền dịch vụ. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luật Lâm nghiệp năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã ghi nhận loại dịch vụ môi trường này song lại chưa có cơ chế pháp lí thống nhất, rõ ràng và cụ thể để triển khai trên thực tế. Tình trạng này đã và đang gây những trở ngại đáng kể cho việc đảm bảo lợi ích của chủ rừng, qua đó làm giảm hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng. Trong bối cảnh hiện tại, trước những đòi hỏi cấp bách của việc đảm bảo lợi ích cho người bảo vệ và phát triển rừng nói riêng, giảm thiểu khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu nói chung, cần mở rộng các nguồn thu dịch vụ môi trường rừng hiện có . Để làm được điều đó, cần sớm ban hành các quy định cụ thể điều chỉnh chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng. Các nội dung cơ bản cần được điều chỉnh bao gồm: Thứ nhất, giải thích rõ thuật ngữ các-bon rừng. Hiện tại, các-bon rừng ở Việt Nam vẫn đang được hiểu theo hai góc độ là: 1) các-bon rừng được tính toán và quy đổi thành tín chỉ các-bon. Tín chỉ này sẽ được dùng để trao đổi, chuyển nhượng, bù trừ tín chỉ các-bon theo quy định về thị trường các-bon của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; 2) các-bon rừng được hình thành từ chức năng chống mất rừng, chống suy thoái rừng dưới góc độ là một loại hình dịch vụ môi trường rừng theo Luật Lâm nghiệp năm 2017. Rõ ràng, hai cách nhìn này có những điểm đồng nhất nhưng cũng có những điểm khác biệt. Do đó, cần có giải thích thống nhất về các-bon rừng làm cơ sở xây dựng và ban hành những quy định phù hợp điều chỉnh mối quan hệ giữa giao dịch tín chỉ các-bon rừng theo thị trường các-bon hay theo cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Thứ hai, xác định rõ quyền các-bon rừng. Để ban hành được quy định về vấn đề này, cần xem xét các khía cạnh như: Quyền đối với các-bon chứa trong sinh khối của cây và rừng; quyền được hưởng lợi ích từ việc cung cấp dịch vụ hấp thụ và tránh mất các- bon; quyền đối với các chứng nhận giảm phát thải và tín chỉ (được hiểu là quyền để tiến hành giao dịch thương mại). Theo đó, cần coi quyền các bon là quyền được hưởng lợi ích được tạo ra từ các hoạt động cung cấp dịch vụ hấp thụ các bon và nâng cao trữ lượng các bon rừng . Thứ ba, quy định cụ thể về cơ chế chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, bao gồm: cách thức chi trả, đối tượng chi trả, mức chi trả; nguyên tắc quản lí đối với hoạt động mua bán, kinh doanh kết quả hấp thụ, lưu giữ các-bon rừng và giảm phát thải khí nhà kính; quản lí, sử dụng tiền thu được từ kết quả hấp thụ, lưu giữ các-bon rừng và giảm phát thải khí nhà kính ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng; phương thức xác định tín chỉ các-bon rừng, phương pháp tính toán tín chỉ cũng như trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp tín chỉ các-bon rừng; trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các bên liên quan… Đây cũng là cơ sở pháp lí quan trọng để thực hiện xã hội hoá công tác bảo vệ và phát triển rừng, gia tăng các nguồn lợi được chi trả từ dịch vụ môi trường rừng, góp phần thu hút các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia và đầu tư vào thị trường tín chỉ các-bon trong nước. Thứ tư, ban hành các hướng dẫn kĩ thuật để hỗ trợ cho việc chi trả loại dịch vụ này. Các hướng dẫn kĩ thuật sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chi trả dịch vụ giữa bên cung ứng dịch vụ và bên hưởng dịch vụ. Theo đó, việc xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ các-bon rừng sẽ cung cấp công cụ hỗ trợ cần thiết cho các hoạt động chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; giảm phát thải khí nhà kính. Hay việc ban hành quy định hướng dẫn tính toán số liệu các-bon trung bình cho các loại rừng ở các vùng sinh thái và bản đồ các-bon sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc tính toán trữ lượng các-bon cho các trạng thái rừng, tính toán biến động trữ lượng các-bon qua các thời kì theo từng nguyên nhân để từ đó có các giải pháp cụ thể cho từng hoạt động tăng cường trữ lượng các bon nhằm bảo vệ và phát triển rừng bền vững 3.2. Sửa đổi quy định về mức chi trả dịch vụ môi trường rừng Trong cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, mức chi trả dịch vụ giữ vai trò khá quan trọng. Nếu được xác định phù hợp, mức chi trả này không chỉ đảm bảo công bằng trong cung ứng và sử dụng dịch vụ mà còn tạo động lực để thúc đẩy chủ rừng tích cực thực hiện các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng. Vì thế, để đảm bảo lợi ích của bên cung ứng dịch vụ, lợi ích của nhà nước và thúc đẩy các hoạt động bảo vệ rừng, các quy định về mức chi trả dịch vụ môi trường rừng hiện hành cần được sửa đổi như sau: Thứ nhất, cần quy định rõ nguyên tắc xác định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng. Theo đó, nguyên tắc xác định mức giá tối thiểu áp dụng đối với từng loại hình dịch vụ môi trường rừng cụ thể cần được xác lập. Cách quy định này vừa bảo đảm có sự can thiệp cần thiết của Nhà nước thông qua cơ chế kiểm soát giá để điều chỉnh thị trường dịch vụ môi trường rừng; vừa bảo đảm quyền chủ động, tự do thoả thuận của các chủ thể tham gia vào quan hệ chi trả dịch vụ môi trường rừng. Thứ hai, sửa đổi, bổ sung quy định về mức chi trả dịch vụ môi trường rừng dựa trên diện tích và giá trị sử dụng của môi trường rừng tại khu vực rừng thực hiện cung ứng dịch vụ. Quy định này sẽ bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể cung ứng và chủ thể sử dụng dịch vụ môi trường rừng một cách thích đáng theo yêu cầu phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững hiện nay. Thứ ba, sửa đổi quy định về mức chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở sản xuất thủy điện theo hướng khả thi hơn, có tính tới các yếu tố giá cả phù hợp với tình hình thực tiễn. Theo đó, cần quy định cụ thể các phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở sản xuất thủy điện thông qua quá trình khảo sát, thu thập thông tin về chất lượng môi trường rừng cung ứng, nhu cầu của thị trường, chất lượng cuộc sống của người dân. Mức chi trả đối với loại hình dịch vụ môi trường này vừa phải bảo đảm được quy luật cung – cầu của thị trường, vừa phải bảo đảm được sự can thiệp hợp lí của Nhà nước vào nền kinh tế vĩ mô, bỏ hẳn bao cấp, tính đúng, tính đủ, hài hòa lợi ích giữa các bên. Điều này xuất phát bởi trong lĩnh vực năng lượng, ngành điện là ngành hạ tầng quan trọng, phải đi trước một bước để phục vụ yêu cầu phát triển toàn diện kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Bởi vậy, giá điện có mối quan hệ mật thiết với mục tiêu ổn định kinh tế, tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của người dân. Bên cạnh đó, để tiến tới nâng cao chất lượng dịch vụ môi trường rừng cho phát triển ngành điện, cần có quy định cụ thể về phạm vi Nhà nước được độc quyền, phạm vi nào tiến tới tư nhân hóa trong sản xuất điện năng trên cơ sở bảo đảm quốc phòng, an ninh. Từ đó, dần tiến tới điều tiết giá điện theo cơ chế thị trường, linh hoạt trong việc áp dụng mức chi trả dịch vụ môi trường rừng. Thêm vào đó, đối với các trường hợp cơ sở vừa sản xuất công nghiệp, vừa sản xuất nông nghiệp hoặc các cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành nghề khác... cần quy định cụ thể về xác định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với các hoạt động này trên cơ sở phù hợp với nguyên tắc xác định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng nói chung; đồng thời phù hợp với đặc thù của từng loại hình dịch vụ môi trường rừng được chi trả. 3.3. Hoàn thiện các quy định về quản lí quỹ bảo vệ và phát triển rừng Để đảm bảo hiệu quả chi trả dịch vụ môi trường rừng qua quỹ bảo vệ và phát triển rừng, các quy định về vấn đề này cần được sửa đổi theo hướng sau: Một là, Chính phủ ban hành quy định hướng dẫn cụ thể đối với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về việc lập, trình phê duyệt kinh phí quản lí của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng trích từ tiền dịch vụ môi trường rừng thực thu hàng năm theo nguyên tắc công khai, minh bạch, bảo đảm hiệu quả của hoạt động quản lí hành chính nhà nước về lâm nghiệp gắn với yêu cầu về cải cách tiền lương, chế độ, chính sách cho bộ máy của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Hai là, bổ sung quy định cụ thể về việc sử dụng nguồn kinh phí này theo Luật Ngân sách nhà nước trên cơ sở bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh. Trong bối cảnh tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác đang ngày càng có xu hướng phát triển mạnh mẽ, kinh phí trồng rừng thay thế theo đó ngày càng gia tăng nhanh chóng, việc bổ sung quy định này là rất cần thiết. Việc trao toàn bộ vấn đề quản lí, sử dụng nguồn thu này cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh dễ dẫn tới tình trạng địa phương lạm quyền hoặc do yếu kém trong năng lực quản lí, từ đó làm ảnh hưởng đến hoạt động trồng rừng thay thế tại địa phương khi không xác định được rõ ràng các trường hợp uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bố trí đất để trồng rừng thay thế trên địa bàn hay thuộc trường hợp địa phương không còn quỹ đất quy hoạch phát triển rừng để trồng rừng thay thế; từ đó làm ảnh hưởng tới hiệu quả quản lí, sử dụng đất rừng, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng trên địa bàn địa phương. Tóm lại, chi trả dich vụ môi trường rừng là cơ chế tài chính đã được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới. Không chỉ giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, chi trả dịch vụ môi trường rừng còn tạo ra nguồn tài chính ổn định nhằm bảo vệ và phát triển rừng. Tại Việt Nam, cơ chế này đã phát huy hiệu quả bảo vệ rừng ở một mức độ nhất định. Vì thế, trong bối cảnh ứng phó với biến đổi khí hậu, các quy định về chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam, khi được hoàn thiện sẽ đáp ứng một cách tốt hơn các đòi hỏi của thực tiễn, tạo cơ sở pháp lí vững chắc và thuận lợi cho việc giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy phát triển thị trường cac bon, góp phần đáng kể vào các nỗ lực tiến tới net zero cùng cộng đồng quốc tế./. TÀI LIỆU THAM KHẢO


